Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Trang bị ngư lôi siêu hạng cho tàu ngầm Kilo Việt Nam?

Theo thiết kế, tàu ngầm lớp Kilo mà hải quân Việt Nam đặt mua của Nga có thể được trang bị loại ngư lôi tối tân nhất hiện nay VA-111 Shkval supercavitating hay còn được biết đến với tên gọi “tên lửa dưới mặt nước”.

VA-111 Shkval được xem như là 1 loại ngư lôi siêu hạng, các thế hệ sau của nó là “ngư lôi siêu khoang” hay “ngư lôi siêu bọt”, được phát triển bởi Hải quân Nga.

Với tốc độ lên tới 360 km/giờ, ngư lôi loại này được đánh giá là nguy hiểm hơn bất cứ loại ngư lôi nào khác mà Hải quân NATO đang sở hữu.

Shkval được thiết kế để chống ngư lôi phóng từ tầu ngầm hạt nhân đối phương còn chưa bị phát hiện, diệt các mục tiêu chạy nhanh đang tới gần. Shkval cho phép những tầu ngầm, tầu chiến ồn ào tự vệ và diệt đối phương khi đối đầu với những tầu ngầm hiện đại chạy êm.

Shkval có tốc độ vượt trội so với ngư lôi thông thường, tốc độ của VA-111 vượt xa tốc độ của ngư lôi hiện có của Trung Quốc, Ấn Độ, các quốc gia NATO...

Tốc độ cao của Shkval đạt được nhờ ứng dụng hiện tượng siêu khoang, tức là ngư lôi chuyển động trong một bong bóng khí khổng lồ, làm giảm đáng kể lực ma sát và cho phép ngư lôi chuyển động ở tốc độc cực cao. Với đặc điểm trên, có thể coi Shkval là “siêu tên lửa dưới nước”.


Siêu tên lửa dưới nước sẽ được trang bị cho tầu ngầm lớp Kilo của Việt Nam

Ngư lôi Shkval sử dụng động cơ tên lửa dưới nước nhiên liệu rắn. Loại động cơ này có lực đẩy rất lớn so với động cơ trên không. Đầu ngư lôi có bộ phận tạo siêu khoang. Có các càng chống vào thành khoang giúp ngư lôi luôn ở giữa khoang.

Shkval sử dụng các ống phóng lôi thông dụng. Khi ra khỏi ống phóng 533 mm, VA-111 có tốc độ khởi động 80 km/giờ. Nhanh chóng sau đó, tên lửa được kích hoạt và đẩy tốc độ lên tới 360 km/giờ (theo một số báo cáo tốc độ này còn có thể lên tới trên 420km/giờ).

Tiếp sau Nga, một số quốc gia khác cũng cố gắng thiết kế ngư lôi siêu khoang cho riêng mình. Đức là quốc gia được biết đã có chương trình Barracuda vào năm 2004. Iran được cho là đã sử dụng thành công các ngư lôi siêu khoang trong tập trận năm 2007.

Ảnh nóng ’Tên lửa dưới nước’ dùng cho tàu ngầm Việt Nam

Thông số kỹ thuật của tên lửa dưới nước VA-111 Shkval
    - Chiều dài: 8,2 m
    - Đường kính: 0,533 m
    - Trọng lượng: 2.700 kg
    - Trọng lượng đầu nổ: 210 kg
    - Tốc độ tối đa: 360 km/giờ
    - Tốc độ ra khỏi ống phóng: 93 km/giờ
    - Tầm bắn: khoảng 6.858 m.

Thái Yên (Defence)

Mỗi phút thế giới chi 3,3 triệu USD cho quốc phòng

Mỹ vẫn dẫn đầu về chi phí quốc phòng với 711 tỷ USD, tương đương với 41% chi phí về quốc phòng của thế giới.

-> Sức mạnh tên lửa hành trình Kh-35E Uran Việt Nam

Theo thống kê về chi phí quốc phòng của thế giới năm 2011 được công bố mới đây của Viện Quốc tế (Sipri), có trụ sở tại Stockholm, Thụy Điển, mỗi phút, thế giới chi tới 3,3 triệu USD, tức 198 triệu USD mỗi giờ, 4,7 tỷ USD mỗi ngày và tương đương với 1.738 tỷ USD mỗi năm cho chi phí về quân sự.

Mỹ vẫn dẫn đầu về chi phí quốc phòng với 711 tỷ USD, tương đương với 41% chi phí về quốc phòng của thế giới.


Thông báo cắt giảm 45 tỷ USD chi phí quốc phòng hàng năm trong thập kỷ tới vẫn còn đang trong quá trình thực hiện.


Mỹ đang thực hiện cắt giảm lực lượng bộ binh và thu hẹp trợ cấp (bao gồm cả hỗ trợ y tế) đối với các cựu chiến binh.

Mục tiêu của Lầu Năm Góc là xây dựng lực lượng quân sự gọn nhẹ, linh hoạt và sẵn sàng triển khai một cách nhanh chóng.

Việc cắt giảm lực lượng bộ binh nằm trong chiến lược mới, đã được thử nghiệm tại cuộc chiến Libya: sử dụng ưu thế vượt trội về không quân và hải quân của Mỹ và các chi phí lớn khác do liên quân đảm nhiệm.

Tuy nhiên, chi phí cho các cuộc chiến không hề giảm đi chút nào, như ngân sách cần thiết phục vụ cho cuộc chiến tại Libya đã được quốc hội Mỹ thông qua cũng được bổ sung vào ngân sách của Lầu Năm Góc.

Ngoài ra, còn có các khoản chi cho ngân sách quân sự khác, trong số đó có khoảng 125 tỷ USD hàng năm chi cho nghỉ dưỡng của quân nhân và 50 tỷ USD dành cho Bộ phận Anh ninh, theo đó, chi phí quốc phòng của Hoa Kỳ phải chiếm tới 50% chi phí quốc phòng của thế giới.

Theo ước tính của Sipri, Trung Quốc vẫn đứng thứ 2 thế giới về chi phí quốc phòng trong năm 2011, với 143 tỷ USD, tương đương với 8% chi phí quốc phòng thế giới.

Tuy nhiên, với mức tăng ngân sách quốc phòng hiện nay là 170% trong giai đoạn 2002-2011, là mức tăng cao hơn cả mức tăng ngân sách quốc phòng của Mỹ, tức 59% cho cùng giai đoạn này. Sự gia tăng này cơ bản là do Mỹ đang thực hiện chính sách chuyển trọng tâm chiến lược vào khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Nga cũng là quốc gia có mức tăng chi phí quốc phòng cao với ngân sách quốc phòng năm 2001 lên tới 72 tỷ USD, theo đó, Nga từ vị trí thứ 5 leo lên vị trí thứ 3 về mức chi phí quốc phòng cao trên thế giới.

Tiếp theo sau Nga là Anh, Pháp, Nhật Bản, Arập Xêút, Ấn Độ, Đức, Brazil và Italy.

Về phân bố khu vực, khu vực Bắc Mỹ, châu Âu và Nhật Bản chiếm tới 70% chi phí quân sự của thế giới. Bộ ba này hiện cũng là trung tâm kinh tế của thế giới và đồng thời cũng đầu tư nguồn lực lớn nhất vào lĩnh vực quân sự.

Theo nhận định của các chuyên gia, chi phí quân sự thế giới sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Theo ước tính của Sipri, chi phí quân sự thế giới đã tăng 250 USD trên đầu người trong số 7 tỷ dân trên trái đất

Thông báo cắt giảm 45 tỷ USD chi phí quốc phòng hàng năm trong thập kỷ tới vẫn còn đang trong quá trình thực hiện.

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Trực thăng tấn công hàng đầu thế giới

Military Channel mới đây đã công bố bảng xếp hạng 10 trực thăng hàng đầu thế giới, trong đó có các trực thăng từng tham chiến tại Việt Nam.

Hiện nay, trực thăng đang được sử dụng một cách phổ biến trong quân đội hầu hết các nước trên thế giới. Nó là một thành phần rất quan trọng của lực lượng Không quân nói riêng và quân đội nói chung: vừa là loại máy bay vận tải thuận tiện vừa là loại máy bay chiến đấu rất hiệu quả, nhất là trong các nhiệm vụ đổ bộ đường không, tấn công cơ động, thọc sâu và yểm trợ, tấn công mặt đất.

Mới đây, Kênh Military thuộc Hãng truyền thông Discovery của Mỹ - một kênh truyền hình mới dành cho quân đội đã đưa ra một ma trận gồm các điểm như mức độ hoàn thiện kỹ thuật thiết kế, số lượng sản xuất, tính năng kỹ chiến thuật, hiệu quả sử dụng, lịch sử chiến đấu, xu hướng phát triển…để xếp hạng 10 trực thăng hàng đầu thế giới.

5. “Thiên mã” CH-53E Super Stallion

Xếp ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng 10 trực thăng hàng đầu thế giới theo bình chọn của Military Channel là trực thăng vận tải hạng nặng CH-53E Super Stallion - loại trực thăng lớn nhất, nặng nhất  từng được nghiên cứu, sản xuất và sử dụng trong quân đội Mỹ.


Trực thăng vận tải hạng nặng CH-53E Super Stallion

Chuyến bay đầu tiên: 1974

Số lượng sản xuất: 115 chiếc

Tải trọng: 13 tấn trọng tải hàng hóa hoặc 14,5 tấn treo bên ngoài, hoặc 55 binh lính.

CH-53E là một biến thể hiện đại hóa của máy bay trực thăng nổi tiếng CH-53 Sea Stallion được tạo ra vào năm 1964 để đáp ứng các yêu cầu chiến đấu của Hải quân, Thủy quân lục chiến và lực lượng phòng thủ bờ biển của Quân đội Hoa Kỳ.

CH-53 Super Stallion chủ yếu được Lực lượng thuỷ quân lục chiến Mỹ sử dụng trong các chiến dịch đổ bộ, thực trực thăng vận nhằm vận chuyển và di rời các trang thiết bị vũ khí hạng nặng phục vụ nhiệm vụ chiến đấu.


Loại máy bay này còn có một nhiệm vụ khá quan trọng là chuyên chở các máy bay phản lực hoặc trực thăng chiến đấu bị hư hỏng trên các tàu sân bay hạng nặng của Hải quân Mỹ.

CH-53 đã từng tham chiến tại Iraq và Afghanistan giúp quân đội Mỹ vận chuyển hàng ngàn tấn hàng hóa và binh lính ra chiến trường đồng thời hỗ trợ chiến đấu cho các lực lượng mặt đất, góp phần tạo nên những chiến tích oanh liệt của Quân đội Hoa Kỳ và Đồng minh tại các chiến trường này.

4. “Ác điểu” UH-1

Trực thăng đa năng Bell UH-1


Chuyến bay đầu tiên: 1956

Số lượng sản xuất: 16.000 chiếc

Tải trọng: 1,5 tấn hoặc 14 binh lính.

Đây là loại trực thăng quân sự đa năng, nổi tiếng vì được sử dụng nhiều trong chiến tranh Việt Nam. Nó thường được biết dưới tên (dùng trong thủy quân lục chiến Mỹ) là Huey.

Mặc dù tổn thất rất lớn (3.305 chiếc UH-1 bị mất trong chiến đấu), nhưng Huey vẫn được xem là một trong những trực thăng thành công nhất mà Mỹ từng chế tạo. Theo số liệu từ các số liệu thống kê, trong suốt 11 năm tham chiến tại Việt Nam, máy bay trực thăng UH-1 đã thực hiện không dưới 36 triệu phi vụ, một con số quá khủng khiếp.


Trước khi Cobra ra đời, Huey đã trải qua một cuộc “đại phẫu” với việc trang bị thêm cặp súng máy 12,7 mm và 48 quả tên lửa không điều khiển. Và cũng từ đó nó được mệnh danh là “ác điểu” trên bầu trời.

Huey được sử dụng một cách rộng rãi và có mặt trong lực lượng vũ trang của hơn 70 quốc gia trên thế giới (nhiều hơn cả số quốc gia sử dụng súng trường tấn công Kalashnikov của Liên Xô/Nga).

3. Trực thăng đa nhiệm Mi-8

Chuyến bay đầu tiên: 1961

Số lượng sản xuất: 17.000 chiếc

Tải trọng: 3 tấn hoặc 24 người

Vũ khí: 2-3 súng máy và 6 giá treo vũ khí có thể mang đến 1,5 tấn vũ khí bao gồm tên lửa không điều khiển 57 mm, bom và tổ hợp tên lửa đối hạm Phalang.


Khoảng 17.000 chiếc máy bay trực thăng đa chức năng Mi-8 (định danh NATO Hip) đã được sản xuất với hơn 3.000 chiếc được xuất khẩu và chúng hiện phục vụ trong lực lượng không quân hơn 50 quốc gia trên thế giới trong đó có Ấn Độ, Trung Quốc và Iran.

Các máy bay trực thăng Mi-8 được chế tạo bởi công ty sản xuất máy bay trực thăng Mil Moscow Helicopter JSC ở Moskve, công ty Kazan JSC ở Kazan và công ty hàng không Ulan-Ude. Chúng gồm các biến thể dùng trong dân sự và quân sự. Các biến thể quân sự gồm Mi-8T vận tải, chuyên chở quan chức cao cấp, chiến tranh điện tử, trinh sát, phiên bản Mi-8TV có trang bị vũ khí và phiên bản tìm kiếm và cứu hộ Mi-8MPS.


Mi-8 là một máy bay trực thăng đơn giản, nhưng hiệu quả, có độ tin cậy cao và có khả năng hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết - từ sa mạc Sahara đến khu vực Bắc Cực. Trực thăng đa chức năng Mi-8 đã tham chiến tại nhiều nơi trên thế giới trong đó có các cuộc xung đột quân sự tại Afghanistan, Chechnya và Trung Đông. Hiện Mi-8 vẫn đang được Bộ quốc phòng Nga tiếp tục trọng dụng và có kế hoạch sản xuất với số lượng lớn.

2. “Hung thần” AH-64 Apache

Xếp ở vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng những trực thăng hàng đầu thế giới của Military Channel là trực thăng AH-64 Apache - máy bay trực thăng tấn công của Lục quân Hoa Kỳ, là thế hệ kế tiếp của máy bay trực thăng Bell AH-1 Cobra. Nó được thiết kế bởi hãng Hughes, sau đó được phát triển bởi hãng McDonnell Douglas và hiện tại được sản xuất bởi hãng Boeing.


Trực thăng tấn công Boeing AH-64 Apache

Chuyến bay đầu tiên: 1975

Số lượng sản xuất: 1.174 chiếc

Vũ khí: Pháo M230 30 mm (tốc độ bắn 625 phát/phút, cơ số đạn lên đến 1.200 viên ), tên lửa AGM-114 Hellfire, AIM-92 Stinger, AIM-9 Sidewinder , AGM-122 Sidearm, rocket Hydra 70.

AH-64 là loại máy bay trực thăng hiện đại vẫn đang được sử dụng hiện nay. Với thiết kế để có thể hoạt động ở mọi địa hình, nó có khả năng hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết cả ngày lẫn đêm.

Apache được sử dụng trong chiến đấu lần đầu tiên là vào năm 1989 trong chiến tranh Panama. AH-64A Apache và AH-64D Apache đã đóng vai trò quan trọng trong một số cuộc chiến tranh ở Trung Đông, gồm Chiến tranh Vùng Vịnh, Chiến dịch Tự do bền vững ở Afghanistan, và cuộc chiến tranh Iraq năm 2003. Các máy bay trực thăng Apache đã chứng tỏ chúng  là các thợ săn xe tăng tuyệt vời và cũng đã phá hủy hàng trăm các loại xe bọc thép (chủ yếu của quân đội Iraq).


Vào mùa thu năm 2011, trong cuộc chạy đua tại Ấn Độ, Apache đã vượt lên trên  “đại kình địch” Mi-28N “Thợ săn đêm” của Nga để giành chiến thắng trong gói thầu  cung cấp máy bay trực thăng tấn công cho Quân đội nước này.

1. “Diều hâu đen” Sikorsky UH-60 Black Hawk

UH-60 Black Hawk là một máy bay trực thăng đa dụng bốn cánh quạt, hai động cơ hạng trung do Sikorsky Aircraft chế tạo. UH-60 đi vào phục vụ trong Lục quân năm 1979, thay thế loại UH-1 Iroquois trở thành máy bay trực thăng vận tải chiến thuật của Lục quân.


Trực thăng đa năng Sikorsky UH-60 Black Hawk

Chuyến bay đầu tiên: 1974

Số lượng sản xuất: 3.000 chiếc

Trọng tải: 1,5 tấn hàng hóa và 4 tấn treo bên ngoài hoặc 14 binh lính.

Vũ khí: 2× M240H 7.62 mm hay 2× M134 minigun 7.62 mm hay 2× GAU-19 12.7 mm, rocket 70 mm Hydra 70, tên lửa dẫn đường bằng laser AGM-114 Hellfire.


UH-60 đi vào phục vụ trong Sư đoàn Không vận số 101 của Lục quân Hoa Kỳ tháng 6 năm 1979. Lục quân Hoa Kỳ lần đầu sử dụng UH-60 trong chiến đấu trong cuộc xâm lược Grenada năm 1983, và một lần nữa trong cuộc xâm lược Panama năm 1989.

Trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, UH-60 đã tham gia vào chiến dịch tấn công đường không lớn nhất trong lịch sử Lục quân Hoa Kỳ với hơn 300 chiếc trực thăng tham gia. Năm 1993, Black Hawk trở nên nổi bật trong cuộc tấn công vào Mogadishu ở Somalia. Những chiếc Black Hawk cũng hoạt động tại Balkan và Haiti trong thập niên 1990. Những chiếc UH-60 vẫn tiếp tục phục vụ ở Afghanistan và Iraq.


Các chuyên gia của Military Channel nhận định rằng “Diều hâu đen” Sikorsky UH-60 Black Hawk là trực thăng của thế kỷ XXI, mặc dù nó đã được tạo ra cách đây 40 năm. Trực thăng Black Hawk mang đầy đủ những tính năng ưu việt của những trực thăng tốt nhất thế giới. Nó có thể thực hiện nhiều kiểu nhiệm vụ, gồm cả vận tải chiến thuật với lính, thiết bị chiến tranh điện tử, và giải cứu đường không.


Một biến thể chở VIP được gọi là VH-60N được dùng để chuyên chở các quan chức quan trọng của chính phủ (ví dụ, Nghị viện, các cơ quan Hành pháp) với dấu hiệu máy bay là Marine One khi chở Tổng thống Hoa Kỳ.

Trong các cuộc tấn công đường không nó có thể chở một đội 14 lính chiến hay mang một bích kích pháo 105 mm M102 howitzer với 30 viên đạn và khẩu đội 4 người chỉ trong một chuyến.[12] Black Hawk được trang bị các thiết bị điện tử tiên tiến để có khả năng và tính năng tồn tại tốt như Hệ thống định vị toàn cầu.


Ngoài các biến thể trên bộ cơ bản, UH-60 còn có các biến thể nổi bật như 2 biến thể chống ngầm SH-60B Sea Hawk và SH-60F Ocean Hawk (được trang bị 1 từ kế và sonar), biến thể HH-60 Rescue Hawk để tìm kiếm cứu hộ và tham gia các hoạt động đặc biệt, cũng như biến thể hiện đại MH-60 Knighthawk.

Chính vì có những tính năng ưu việt, chi phí thấp, bảo trì đơn giản, MH-60 (biến thể hiện đại của UH-60) đang được Quân đội Hoa Kỳ lên kế hoạch để trở thành loại máy bay trực thăng duy nhất cho tất cả các lực lượng vũ trang bao gồm hải, lục không quân và Thủy quân Lục chiến.

Trịnh Tuân (Theo Topwar)

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Vì sao không quân địch không thể làm chủ bầu trời VN?

[Chuyên mục Tin Quốc Phòng] Đạt hiệu quả cao trong tác chiến điện tử (tấn công và phòng chống). Sẵn sàng đập tan chiến thuật thống trị vùng trời của địch.

Tác chiến điện tử có một vai trò vô cùng quan trọng. Nếu như thông tin liên lạc (TTLL) được xem như là mạch máu trong cơ thể thì trong thời đại ngày nay, khi công nghệ điện tử, thông tin, vật liệu mới đang phát triển mạnh mẽ, trở thành yếu tố quyết định trong các hoạt động quân sự thì TCĐT trở thành nhân tố sống còn của chiến tranh hiện đại.

Tác chiến điện tử có nhiệm vụ duy trì khả năng tác chiến của hệ thống chỉ huy, điều khiển, trinh sát và TTLL của ta và ngược lại vô hiệu hóa hệ thống chỉ huy, điều khiển, trinh sát và TTLL của địch.

Tác chiến điện tử bao gồm các hoạt động như: Trinh sát điện tử; bảo vệ hệ thống điện tử của ta và chế áp điện tử đối phương.

Có thể nói Việt Nam, do khoa học công nghệ chưa phát triển nên việc chế áp điện tử đối phương là khó khăn và rất tốn kém, nhưng bù lại, Việt Nam có điều kiện để phòng chống thuận lợi, có hiệu quả mà ít tốn kém.

Thứ nhất, vị trí địa lý, khí hậu thời tiết…đã làm cho Việt Nam dễ ngụy trang, gây nhiễu khiến trinh sát điện tử của địch có độ chính xác thấp; một lưới lửa đánh chặn tầm thấp rất hiệu quả đã chứng minh trong chiến tranh chống Mỹ, giờ đã được nâng cấp sẽ giảm thiểu rất nhiều hiệu quả của tên lửa hành trình và máy bay thấp; một hệ thống TTLL, trinh sát chỉ thị mục tiêu kết nối thành mạng lưới, bao phủ rộng khắp của thế trận chiến tranh nhân dân; một đơn vị tấn công có thể được cung cấp từ nhiều nguồn thông tin về mục tiêu…

 Đây là những yếu tố mà đối phương không thể bằng một loạt tên lửa, dù hàng ngàn quả, là có thể làm cho hệ thống “nghe”, “nhìn” của Việt Nam thành “mù” và “điếc” dẫn đến tê liệt toàn bộ hệ thống phòng không để không quân đối phương làm chủ vùng trời dễ dàng.

Thứ hai, lực lượng hải quân, không quân Việt Nam đã từng đối đầu oanh liệt không chùn bước với một lực lượng hải quân, không quân mạnh bậc nhất thế giới đương đại-Hoa Kỳ, có thừa bản lĩnh và kinh nghiệm, không phải là đối tượng tác chiến dễ chơi.

Nếu như khu trục hạm Maddox của Mỹ cũng đã từng nếm đòn và tháo chạy khỏi lãnh hải Việt Nam bởi một lực lượng nhỏ bé, trang bị lạc hậu thì ngày nay Hải quân và Không quân Việt Nam đã khác xa.


Tên lửa Kh-35 vũ khí lợi hại của Quân đội Việt Nam

Không những HQ, KQ của Việt Nam đã có tàu chiến, máy bay… hiện đại ngang tầm khu vực mà điều gây nguy hiểm nhất cho đối phương ở chỗ nó - máy bay, tàu chiến…, hoàn toàn mang đậm dấu ấn tư tưởng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Đó là, vũ khí trang bị-kỹ thuật chiến tranh hiện đại dù là mua sắm cũng phải theo cách phù hợp với lối đánh Việt Nam.

Sáng tạo trong sử dụng, tự lực cánh sinh sản xuất chế tạo vũ khí mới, kết hợp cải tiến công nghệ phát triển vũ khí đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ…khiến cho trong tay QĐND Việt Nam vũ khí TBKT chiến tranh hiện đại trở nên nguy hiểm và bí hiểm bất ngờ cho đối phương hơn bao giờ hết.

Nhiều chuyên gia quân sự nước ngoài đã từng phân tích sự khác biệt giữa máy bay cùng loại SU-30 hay KILO…của Việt Nam với các nước khác. Đó là mới chỉ “phần nổi của tảng băng chìm” trong nét độc đáo, sáng tạo của công tác xây dựng lực lượng, sử dụng lực lượng dựa trên nền tảng của học thuyết quân sự Việt Nam.

Vì vậy, Hải quân, Không quân Việt Nam xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đáng tin cậy trong phòng thủ bảo vệ vùng trời, vùng biển. Ít nhất, đối phương cũng không thể muốn làm gì thì làm trong lãnh hải, không phận Việt Nam, không thể chỉ phóng tên lửa tới người khác mà không bị tên lửa người khác phóng tới.

Thứ ba, hệ thống tên lửa phòng thủ của Việt Nam đa dạng, phục vụ cho đa chiến thuật. Có loại thuộc diện nguy hiểm, hiện đại bậc nhất thế giới như Bastion-P, S-300P; có loại Việt Nam sản xuất, tự chủ được số lượng như Kh-35 hay Yakhont thì nó còn thuộc loại vũ khí hiệu nghiệm cho tác chiến phi đối xứng…

Tất cả các hệ thống tên lửa phòng thủ Việt Nam ngoài việc phát huy tối đa tính năng kỹ chiến thuật của chính nó lại còn được một hệ thống chỉ thị mục tiêu từ bên ngoài trang bị trên tàu cảnh giới và hệ thống nhận chỉ thị mục tiêu, tính toán tự động các tham số bắn cho tên lửa đối hải mà Việt Nam nghiên cứu chế tạo thành công…càng làm cho tác chiến tên lửa của các hệ thống tấn công tên lửa như bệ phóng cố định, trên tàu thuyền Việt Nam rất nhiều lựa chọn phương án tấn công, nó không những mang tính hiện đại (đương nhiên) mà còn mang tính du kích (khi tác chiến phi đối xứng)…

Như đã nói, phòng thủ BVTQ trong tình hình hiện nay từ hướng biển đảo là hướng chính, sống còn của những nước có địa hình tiếp giáp dài với biển, có nhiều đảo lớn nhỏ như Việt Nam ta. Nếu như trong chiến tranh hiện đại, vị trí xuất phát của các lực lượng tiến công ở đâu thì đó cũng chính là tuyến đầu của thế trận phòng thủ.

Sự kết hợp hoàn hảo, có tính chiến lược và là sự liên kết phối hợp các lực lượng vũ trang mà nòng cốt là hải quân, không quân, các đơn vị tên lửa phòng thủ bờ, nhiều tầng, nhiều lớp, trên không, trên biển, dưới biến đã làm cho khả năng phòng thủ hướng biển từ xa của Việt Nam là điều mà không ai có thể coi thường.

Cho nên, vị trí xuất phát tấn công của địch ở đâu (ảnh hưởng rất nhiều đến độ chính xác của vũ khí) còn phải phụ thuộc vào Việt Nam mà đối phương phải tính đến.

Đến đây, nếu như so sánh, phân tích 3 cuộc chiến tranh hiện đại mà Mỹ và NATO tiến hành gần đây thì chừng đấy thôi, với Việt Nam, chưa đủ, vì sức đề kháng của Việt Nam quá lớn, thế trận của Việt Nam quá khác.

Và điều quan trọng là với Việt Nam, bất kỳ đối phương nào cũng sẽ rất không dễ dàng đạt được mục tiêu, nhưng rất dễ dàng xảy ra điều mình không lường trước.

Chuẩn bị kỹ lưỡng mọi nhân lực, vật lực cho công cuộc phòng thủ BVTQ, đủ sức răn đe và sẵn sàng giáng trả quân xâm lược, nhưng Việt Nam hy vọng, mong mỏi không bao giờ sử dụng đến. Hòa bình, hữu nghị là trên hết.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Con đường ngắn nhất dẫn tới xung đột tại Đông Á

Ba trong số bốn cường quốc khu vực đang nổi sẽ hình thành các tiêu điểm cho một sự chuyển đổi quyền lực tổng thể sang phía Đông trong thế kỷ tới. Vì vậy, dù Washington sẽ không có phương tiện và cũng không muốn đảm bảo an ninh cho nhiều khu vực cùng lúc, nhưng giảm bớt các nỗ lực ở châu Á lúc này sẽ là điên rồ.

PV giới thiệu phân tích của ông Jonathan Levine, một giảng viên về chuyên ngành Nghiên cứu Mỹ và tiếng Anh tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh.


Sau Chiến tranh thế giới II, nền hòa bình tại Đông Á chủ yếu đã được gìn giữ nhờ sự hiện diện đáng kể của sức mạnh quân sự Mỹ. Sức mạnh Mỹ đã giữ nhiều chiếc nút trên miệng những cái chai ở khu vực này. Một sự hiện diện chưa đủ mạnh của Mỹ sẽ tháo xích cho con quỷ cũ hiện đang ngủ và gây ra thế tiến thoái lưỡng nan nguy hiểm chết người về an ninh. Các chi phí trong ngắn hạn mà Mỹ phải chịu khi hiện diện tại châu Á hiện nay sẽ không thấm vào đâu so với những chi phí dài hạn rất lớn mà Mỹ nên giảm bớt. Những con đường có nguy cơ dẫn tới xung đột tại Đông Á rất nhiều, nhưng đây chính là con đường ngắn nhất.

Trung Quốc và Đài Loan


Năm 1662, khi các chiến binh người Mãn Châu tìm cách củng cố triều đại nhà Thanh mới tại Bắc Kinh, các tàn dư của triều đại nhà Minh tiền nhiệm đã bỏ chạy sang hòn đảo Đài Loan xa xôi. Đài Loan đã tự điều hành như một "Vương quốc Đông Ninh" tự trị và bày mưu hủy hoại đại lục một cách tốt nhất. Phải tới năm 1683, Đông Ninh cuối cùng mới bị Hoàng đế Khang Hy chinh phục và hợp nhất vào đại lục.

Hòn đảo nhỏ bé và cằn cỗi này có quá ít tài nguyên thiên nhiên để đang được nhắc đến, và có càng ít lợi ích mà Trung Quốc có thể có được từ việc thực thi chủ quyền trực tiếp đối với hòn đảo này. Trung Quốc cũng sẽ mất nhiều và được ít nếu xảy ra chiến tranh với Đài Loan, nhưng cho đến giờ, sau ba cuộc khủng hoảng tại Eo biển Đài Loan, chiến tranh vẫn không phải là điều không thể xảy ra.

Câu hỏi hóc búa Đài Loan nằm ở niềm tự hào dân tộc, không phải ở những tính toán thực dụng. Từ khi Tưởng Giới Thạch bỏ trốn sang Đài Loan năm 1949, đây vẫn là một cái gai trong mắt người Cộng sản ở Bắc Kinh, khiến họ không thể tuyên bố một chiến thắng hoàn toàn trong cuộc cách mạng của mình.

Các tướng lĩnh của Trung Quốc đã phải điên đầu vì Đài Loan nhiều thập kỷ qua, và đã hài lòng với các chính sách mang tính hòa giải hơn đối với hòn đảo này mà Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và chính quyền ôn hòa của ông theo đuổi. Sự đã rồi về sức mạnh quân sự của Mỹ là lý do chính giúp giới lãnh đạo dân sự chiến thắng các trào lưu chủ nghĩa dân tộc trong những năm qua. Nếu Mỹ rút khỏi "sân khấu" này và từ bỏ các hỗ trợ về quân sự và chính trị cho Đài Loan, Quân Giải phóng Nhân dân (PLA - quân đội Trung Quốc) sẽ đứng trước sức ép phải hành động quyết đoán hơn. Nếu không có đối trọng là sức mạnh răn đe của Mỹ, sẽ rất khó giữ cái đầu lạnh để chiến thắng.

Tái quân sự hóa Nhật Bản


Trong khi Mỹ tìm cách giảm bớt các cam kết quốc tế, nhiều nước phương Tây thấy rằng ý tưởng về một Nhật Bản tái quân sự hóa là đã quá muộn. Nhật Bản đã đi một chặng đường dài từ đống tro tàn năm 1945 và giờ đã đến lúc tự tháo bỏ cái cồng mang tên Hiến pháp bất bạo động sau chiến tranh thế giới II và đảm nhận các trách nhiệm tự bảo vệ mình.

Nhưng quan điểm này không được các nước láng giềng Nhật Bản ủng hộ. Sự tàn ác của phát xít Nhật trên mảnh đất châu Á vượt xa bất cứ thứ gì Mỹ từng trải nghiệm ở Chân Trâu Cảng. Nhà sử học lỗi lạc Chalmers Johnson ước tính quân đội Nhật đã cướp đi sinh mạng của 30 triệu người ở châu Á, 23 triệu trong số này là người Trung Quốc. Nhà báo, nhà sử học trẻ người Mỹ Iris Chang thậm chí còn so sánh với thảm kịch tàn sát người Do Thái mà Hitler đã gây ra.

Trong khi Đức bỏ ra ít nhất 6 năm để tạ lỗi và xa lánh với dù chỉ một cơn gió nhẹ của chủ nghĩa dân tộc, Nhật Bản lại tỏ ra lầm lì hơn trong việc thừa nhận các hành động dã man mà quân đội Nhật đã làm trước đây. Nhiều học giả và cả cựu Thủ tướng Shinzo Abe vào những thời điểm khác nhau đã phủ nhận hoàn toàn hoặc một phần các tội ác chiến tranh của Nhật Bản. Ông Abe và người tiền nhiệm Junichiro Koizumi đã liên tục đến thăm ngôi đền tưởng niệm những người đã chết trong chiến tranh của Nhật Bản từ giữa thế kỷ 19, trong đó có cả các tội phạm chiến tranh.

Câu chuyện lịch sử tàn ác này khiến các nước láng giềng của Nhật Bản tức giận. Dù Trung Quốc hiện đã có lực lượng quân sự đông đảo nhất thế giới, có vũ khí hạt nhân và nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nhưng nỗi kinh hoàng và sự nghi ngờ đối với Nhật Bản vẫn còn rõ nét. Dù ý tưởng về một mối đe dọa mới mang tên Nhật Bản đối với châu Á khiến phương Tây cười nhạo, nhưng nó lại là rất thực tại Bắc Kinh - và sự đa nghi sẽ không thể tự nhiên biến mất. Tại phương Đông, từ lâu có niềm tin là chiếc ô an ninh của Mỹ giống như một chiếc nút bịt kín cái chai chủ nghĩa quân phiệt Nhật.

Khi Tập Cận Bình kêu gọi Mỹ đóng vai trò tại Đông Á, ông dường như đã rất thành thật về đề nghị này. Nếu các binh lính Mỹ rời Nhật Bản, hoặc hiệp định an ninh Nhật - Mỹ hết hiệu lực, người Nhật sẽ có thể xây dựng lại quân đội của mình: đó chính là điều Washington muốn nhưng là điều Bắc Kinh lo ngại. Từ bỏ sự bảo vệ của Mỹ sẽ dẫn tới sự xuất hiện của một thế tiến thoái lưỡng nan an ninh kiểu cổ điển, với việc Nhật Bản sẽ tìm cách thu hẹp bất cân bằng về năng lực với Trung Quốc.

Bất chấp các mối quan hệ dưới thời Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, quan hệ bằng hữu Trung - Nhật đã "đảo chiều" sau sự kiện Thiên An Môn. Từ năm 1989, Trung Quốc đã tập trung vào "giáo dục tình yêu nước" như một cách để gây sự chú ý vào các vấn đề trong nước mà Thiên An Môn đặt ra. Người ta dạy về chủ nghĩa dân tộc, tình cảm chống Nhật và nhắc nhớ công dân Trung Quốc về những hành động dã man trong quá khứ, cộng với một loạt cách hoạt động kỷ niệm công khai hàng năm.

Việc Nhật Bản xây dựng quân đội sẽ khiến Trung Quốc phát điên lên và sẽ thổi bùng một thái độ thù địch mạnh mẽ hơn từ trong nước. Một số nước láng giềng của Nhật Bản vẫn còn đau đớn với những trải nghiệm của mình trong Chiến tranh Thế giới II cũng sẽ phản đối việc Nhật Bản xây dựng quân đội. Với tài ngoại giao khéo léo, Trung Quốc có thể tự đặt mình vào vị trí người cứu tinh cho khu vực. Luôn tìm cách củng cố sức mạnh mềm của mình một cách đầy thiện ý, Bắc Kinh sẽ rất vui khi tấn công vào các thỏa thuận an ninh với các nước mà Washington bỏ đi trong lạnh nhạt.

Hàn Quốc


Đối với Mỹ, chiến tranh Triều Tiên đã kết thúc năm 1953. Nhưng tại Bình Nhưỡng, cuộc chiến này vẫn đang tiếp tục đến ngày nay. Phương Tây sẽ khôn ngoan khi nhớ rằng một thỏa thuận hòa bình chính thức vẫn chưa bao giờ được ký kết giữa hai miền Triều Tiên và xét về mặt kỹ thuật thì xung đột vẫn tiếp diễn suốt 60 năm qua. Đối với các binh sĩ Mỹ đang đồn trú tại Hàn Quốc, thái độ thù địch lúc nào cũng có thể trở lại. Nhưng bất chấp việc Triều Tiên "khua chiêng gõ trống" và áp dụng chính sách bên miệng hố chiến tranh, gần đây nhất là việc bắn pháo vào Đảo Yeonpyeong của Hàn Quốc, Triều Tiên vẫn tỏ ra kín đáo về khả năng đẩy vấn đề đi xa hơn.

Thực vậy, giới lãnh đạo Triều Tiên sẽ mắc lỗi nếu có những hành động phi lý. Tất cả những gì triều đại nhà họ Kim muốn là an ninh. Việc họ theo đuổi vũ khí hạt nhân chẳng qua là một câu trả lời cho nỗi lo ngại hiện hữu về nguy cơ can thiệp của Mỹ, nhất là sau khi cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush liệt Triều Tiên vào "Trục Ma quỷ". Cả những nhân vật hiếu chiến nhất ở Triều Tiên cũng thừa biết rằng trước sức mạnh răn đe hiện nay của Mỹ, thì việc kéo Hàn Quốc vào một cuộc chiến tranh chẳng khác nào là tự tử.

Nhưng nếu các binh lính Mỹ về nước, như một phần trong xu hướng chung rút khỏi châu Á của Mỹ, thì người Triều Tiên có thể đánh giá lại các lựa chọn của mình. Vốn tự cao về các năng lực của mình, họ sẽ muốn kết thúc vấn đề, hoặc ít nhất là sử dụng đòn bẩy mới để quấy rầy nước láng giềng phương Nam nhiều hơn. Bắc Kinh sẽ tìm cách ngăn chặn Triều Tiên trước khi họ có thể gây quá nhiều phiền phức (và làm ảnh hưởng tới quan hệ thương mại rất sinh lời của Trung Quốc với Hàn Quốc). Nhưng điều này sẽ đẩy Trung Quốc vào một tình thế cực kỳ khó xử: bảo vệ kẻ thù không đội trời chung của đồng minh thân cận nhất của mình tránh khỏi sự tấn công của người đồng minh đó! Đây giống như một "công thức" cho bất ổn.

Các sinh viên của tôi tại trường Đại học Thanh Hoa thường hỏi làm thế nào Mỹ có thể "kiểm soát thế giới". Tôi đã nói với họ rằng sức mạnh và tầm ảnh hưởng của Mỹ không phải là cái gì đó mà nước này tự nguyện hiến dâng, mà là một gánh nặng miễn cưỡng sau khi châu Âu từ bỏ vị trí bá chủ toàn cầu, vì nói một cách đơn giản là các cường quốc phương Tây không thể một mình gánh chịu nó.

Vị thế bá chủ của Mỹ đang suy yếu, Washington sẽ không có phương tiện và cũng không muốn đảm bảo an ninh cho nhiều khu vực cùng lúc. Nhưng ba trong số bốn cường quốc khu vực đang nổi - gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, được biết đến với cái tên BRICs - đang nằm ở châu Á và sẽ hình thành các tiêu điểm cho một sự chuyển đổi quyền lực tổng thể sang phía Đông trong thế kỷ tới. Vì lợi ích của Mỹ sẽ phải phù hợp với điều này, nên việc giảm bớt các nỗ lực ở châu Á lúc này sẽ là điên rồ./.

Châu Giang/Theo nationalinterest.org - TuanVietnamnet

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Trường Sa-Bãi cọc Bạch Đằng phòng thủ Việt Nam (I)

Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa hay biển Tây Philippines) là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km vuông. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia.

Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của Châu Á có hai điểm trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Malacca . Điểm trọng yếu thứ hai là vùng Biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là  khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đánh giá vị trí chiến lược của quần đảo Trường Sa, các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông.

Vì vậy, tấn công đánh chiếm quần đảo Trường Sa của Việt Nam của các nước đang tranh chấp về quần đảo này không phải là chuyện không thể xảy ra mà là một nguy cơ, thách thức với Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.

Vậy, kẻ thù có thể tấn công đánh chiếm Trường Sa như thề nào? Thực tế chỉ có 2 phương án để tấn công đánh chiếm:

Một là tấn công trực tiếp

Thực hiện phương án này địch sẽ dùng một lực lượng lớn về tàu ngầm, tàu mặt nước, không quân phóng tên lửa, thả bom, nã đại bác để dọn sạch bãi đổ bộ đồng thời làm tê liệt khả năng chống cự của lực lượng phòng thủ trên đảo, sau đó lính thủy đánh bộ từ tàu đổ bộ đệm khí tràn lên đánh chiếm đảo.

Về lý thuyết quân sự, đây là phương án “tiết kiệm” nhất do quy mô nhỏ nhất, hiệu quả cao nhất và nhanh nhất. Tuy nhiên, phương án này của kẻ thù sẽ vấp phải ý chí của toàn dân, toàn quân sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ từng tấc đất, hòn đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Nếu kẻ địch vẫn thực hiện phương án này thì đây là một thảm họa đối với chúng. Bởi lẽ ngay khi không có sự hỗ trợ chi viện của đất liền thì thế và lực phòng thủ của lực lượng giữ đảo cũng gây khó khăn rất nhiều cho lực lượng tấn công đánh chiếm.

Trước hết về lực.

Vị trí Hải quân địch tấn công không phải cần bao nhiêu tùy ý vì vũ khí phục vụ cho tác chiến phi đối xứng, chúng ta không phải là không nghĩ đến. Biết đâu trên đảo đều được trang bị RBS-17 của Thụy Điển chẳng hạn, do đó độ chính xác của tên lửa, pháo địch trúng mục tiêu là không cao và nếu có trúng mục tiêu thì khả năng sát thương hạn chế bởi các hầm hào phòng thủ kiên cố trên đảo.

Nếu như Hải quân địch còn phải lo đối phó với không quân, hải quân Việt Nam từ đất liền thì kế hoạch dọn bãi đổ bộ, làm tê liệt sức đề kháng của bộ đội trên đảo trước khi tàu đổ bộ đệm khí xuất phát xem ra hiệu suất rất thấp, nếu không nói là vô vọng.


Một đại đội RBS 17 có 3 trung đội, mỗi trung đội có 3 tiểu đội và mỗi tiểu đội được biên chế 2 bệ phóng. Mỗi tiểu đội được trang bị một thiết bị laser chỉ thị mục tiêu, đặt cách bệ phóng 4-5 km để dẫn tên lửa đến mục tiêu. Người điều khiển có thể dẫn tên lửa đến đúng phần nhất định của tàu địch. 

Tuy gọn nhẹ, song RBS 17 có tầm bắn hiệu quả đến 10 km và uy lực chiến đấu khá mạnh. Theo tính toán của các chuyên gia Thụy Điển, một quả RBS 17 có khả năng đánh chìm tàu đổ bộ đệm khí, xuồng đổ bộ hay tàu quét lôi, 2-3 quả có thể đánh chìm tàu đổ bộ có lượng giãn nước 2.000 tấn.


Tiếp theo là về thế.

Tính toàn bộ, quần đảo có rất nhiều đảo nhỏ, đảo san hô và đảo chìm (diện tích đất liền chỉ 5 km2 nên chủ yếu là đảo san hô và đảo chìm) rải rác trên một diện tích chừng 410.000 km2.

Như vậy về địa hình thì có thể nói quần đảo Trường Sa là một bãi đá ngầm và san hô nổi hoặc chỉ nổi khi thủy triều xuống xen kẽ giữa nó mới là các đảo thực sự.

Cho nên địa thế của các đảo trong quần đảo Trường Sa là rất hiểm yếu, không quá nếu như nói rằng đó là những hệ thống “cọc Bạch Đằng” cho phòng thủ. Điều này thật sự không hề dễ dàng chút nào cho tàu đổ bộ tiếp cận.

Nếu tàu đổ bộ đệm khí lớn thì không thể tiếp cận được bờ, còn nếu dùng tầu đổ bộ nhỏ chỉ có thể tiếp cận được bờ (một số đảo) khi thủy triều cao thì lực lượng đổ bộ bị phân tán dễ bị tiêu diệt (Dĩ nhiên có những bãi, bờ không có vành đá ngầm, dãy san hô thì chắc chắn bên phòng thủ đã đưa vào sự quan tâm đặc biệt rồi).

Nếu như yêu cầu sống còn của tác chiến đổ bộ phải là tập trung, triển khai nhanh vào bờ thì đây là mâu thuẫn không thể giải quyết giữa tập trung và phân tán, giữa triển khai nhanh lực lượng áp sát chiếm lĩnh bờ với sự chậm chạp bất khả kháng.

Điều cuối cùng là tính bất khả thi của chiến thuật

Một bài toán không kém phần hóc búa đặt ra cho kẻ địch là, sau khi các lực lượng tàu mặt nước, không quân dọn xong bãi đổ bộ, lính thủy đánh bộ theo tàu đổ bộ vào đảo thì lực lượng này liệu có an toàn để trở về nơi xuất phát hay không khi không còn khả năng để chống trả?

Quần đảo Trường Sa như trước cửa nhà Việt Nam nên chắc chắn SU-27 của Việt Nam-loại máy bay đánh chặn trứ danh sẽ dễ dàng biến lực lượng của kẻ địch thành “quân xanh” để diễn tập.

Do đó chắc chắn địch phải có một thê đội 2 để làm nhiệm vụ phát sinh, có nghĩa là phải sử dụng một lực lượng rất lớn tham gia tác chiến. Vậy địch có dám mạo hiểm không khi tại căn cứ lực lượng bảo vệ quá mỏng?

Tóm lại, phải đối đầu với lực lượng phòng thủ trên đảo và đặc biệt đối đầu với lực lượng chi viện ở đất liền nhanh, mạnh, sung sức thì chắc chắn là không thể thắng.

Từ những cơ sở trên thì kẻ địch chẳng bao giờ liều lĩnh tấn công đánh chiếm quần đảo Trường Sa bằng phương án này.

Vì vậy địch sẽ tấn công đánh chiếm quần đảo Trường Sa bằng một phương án khác, đó là: tấn công tổng lực vào đất liền để làm cho lực lượng chi viện quần đảo Trường Sa của Việt Nam mất sức chiến đấu. Sau đó đánh chiếm quần đảo Trường Sa theo phương án ban đầu.

Có lẽ đây là phương án mang tính khả thi nhất nhưng quy mô quá lớn, không gian chiến trường quá rộng làm ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh toàn khu vực.

Cuộc chiến sẽ kéo theo những hệ lụy không lường trước được với kẻ xâm lược.

Quá mạo hiểm khi tấn công xâm lược một đất nước có truyền thống đánh giặc lại được chuẩn bị như chưa bao giờ kỹ càng như thế.

Bộ Công An chặn đứng một âm mưu phản động

Kế hoạch “5 điểm” của tổ chức phản động “Phục hưng Việt Nam” mà trọng tâm là chèn sóng Đài Tiếng nói VN nhằm phục vụ mưu đồ lật đổ chính quyền đã bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an chặn đứng.

Ngày 19/4, Cơ quan An ninh điều tra (A92 - Bộ công an) cho biết đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 tháng đối với Võ Viết Dziễn (sinh năm 1971, ở huyện Càng Long, Trà Vinh) về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ luật hình sự.
Bộ Công an chặn đứng âm mưu chèn sóng VOV

Thiết bị để chèn sóng Đài tiếng nói Việt Nam

Theo Cơ quan An ninh điều tra, Dziễn thường xuyên lên mạng Internet, vào một số trang web phản động để quen với một đối tượng tên Nhất Thắng - Trưởng ban liên lạc của tổ chức phản động “Phục hưng Việt Nam”. Theo Cơ quan điều tra, Dziễn bị tiêm nhiễm những tư tưởng lệch lạc, xuyên tạc về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Tháng 11/2011, theo chỉ đạo của Thắng, Dziễn từ Việt Nam bay sang Singapore để gặp những thành phần “chóp bu” của tổ chức “Phục hưng Việt Nam” là Trần Trọng Ngà (còn gọi Trần Quốc Bảo) - Chủ tịch tổ chức này và gặp một đối tượng khác tên Cương.

Tại đây, Dziễn được các đối tượng này giới thiệu về tổ chức “Phục hưng Việt Nam”, “Lực lượng cứu quốc”, được cho “nghiên cứu” tài liệu về các tổ chức và được giao nhiệm vụ về Việt Nam tập hợp nhiều người ra Hà Nội biểu tình.

Theo cơ quan điều tra, cái gọi là tổ chức “Phục hưng Việt Nam” đã chi 1.500 USD cho Dziễn để trang bị các phương tiện liên lạc và đề nghị Dziễn tìm mua một lô đất (giá 50.000 USD) thành lập trang trại nhằm mục đích tạo thêm nguồn kinh phí cho hoạt động của tổ chức. Tiếp đó, các đối tượng trong tổ chức phản động còn gửi thêm tiền cho Dziễn để tìm người đưa qua Thái Lan gặp gỡ, huấn luyện.

Tháng 3/2012, tổ chức “Phục hưng Việt Nam” tiếp tục chuyển 2.000 USD vào tài khoản của Dziễn làm kinh phí qua Thái Lan để tập huấn. Dziễn cùng vợ con qua cửa khẩu Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh) sang Campuchia rồi từ Campuchia qua Thái Lan bằng cửa khẩu Poipet.

Từ ngày 26 đến 30/3/2012 Dziễn được nhóm phản động huấn luyện cách sử dụng một số phần mềm bảo mật máy tính, thiết bị chèn phá sóng và giao nhiệm vụ về Việt Nam để thực hiện kế hoạch “5 điểm”.

Kế hoạch “5 điểm” này có phần mục chèn sóng theo tần số 103 Hz (chèn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam) đúng vào dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4 mà tổ chức này gọi là “Tháng Tư đen”. Kế hoạch tiếp theo là hàng loạt các hành động như: Tìm những khu phố người Hoa tại Việt Nam, trong đó tập trung vào khu phố người Hoa tại Bình Dương để đốt phá, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc; rải truyền đơn với khẩu hiệu có nội dung phản động sau đó quay phim, chụp hình gửi tổ chức; Tập hợp người ra Hà Nội biểu tình; xây dựng trang trại để làm kinh tế cho tổ chức.

Tuy nhiên, Dziễn chưa kịp hành động thì đã bị A92 bắt giữ.

Theo Dân Việt

Ấn Độ thử tên lửa tầm xa khiến Trung Quốc nhấp nhổm

Ấn Độ tuyên bố đã bắn thử thành công tên lửa đạn đạo tầm xa Agni-V ngay trong lần thử nghiệm đầu tiên.


Sáng ngày 19/4, Ấn Độ đã bắn thử tên lửa tầm xa được cho là có khả năng chạm đến các mục tiêu ở tận miền bắc Trung Quốc hay phía đông châu Âu.

Theo tin mới nhất được tờ Times of India đăng tải, Ấn Độ tuyên bố đã bắn thử thành công tên lửa đạn đạo tầm xa Agni-V ngay trong lần thử nghiệm đầu tiên. Tên lửa Agni V được đã được phóng đi ở tầm xa nhất khoảng 5.000 km trong đợt thử nghiệm sáng nay.

Theo tờ báo trên, Agni-V được phóng từ đảo Wheeler, nằm ở ngoài khơi bờ biển Odisha của Ấn Độ vào lúc 8:07 theo giờ địa phương.

Agni-V có trọng lượng khoảng 50 tấn, dài 17,5m, với đường kính thân đạt 2m và có mang theo đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân nặng 1 tấn.

Ngoài ra, quân đội Ấn Độ còn có tham vọng phát triển tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) Agni-6 với tầm bắn đạt tới 10.000 km.

Dự kiến, quân đội Ấn Độ sẽ tiến hành 4-5 đợt thử nghiệm thành công trước khi chính thức đưa Agni-V vào biên chế quốc phòng năm 2014 tới 2015.

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012

Diệu kế bảo vệ Tổ quốc của Quân đội Việt Nam

Đối tượng có âm mưu tấn công xâm lược Việt Nam, đương nhiên bao giờ cũng hùng mạnh hơn khi so sánh lực lượng mới dám hành động. Nhưng khi xảy ra chiến tranh thì sự so sánh đó chỉ mang tính tương đối.

Để dành thắng lợi trong chiến tranh còn phụ thuộc nhiều yếu tố như: Bố trí lực lượng như nào trên cơ sở địa lý để biến lực lượng ít thành nhiều, yếu thắng mạnh.

Bố trí lực lượng ra sao để phục vụ cho lối sở trường hay như lối đánh đánh tập kích nhiều hướng, nhiều tầng, dồn dập, vân vân và vân vân. Đó thuộc về nghệ thuật quân sự chỉ huy, mưu kế nhà binh của các tướng lĩnh, sỹ quan QĐND Việt Nam.

Bởi vậy, muốn thực thi nghệ thật quân sự, phải tiến hành tổ chức xây dựng lực lượng phù hợp đáp ứng với cách thức bố trí và sử dụng lực lượng.

Đây vừa là nội dung, vừa là tiền đề cho nghệ thuật tác chiến đánh thắng kẻ thù. Không xây dựng phát triển lực lượng, thậm chí xây dựng thiếu khoa học, không phù hợp với tình hình thực tế đất nước thì thất bại là không tránh khỏi.

Có thể nói chưa bao giờ trong lịch sử, Việt Nam ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chuẩn bị cho nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ tổ quốc (BVTQ) một cách bình tĩnh, tự tin, sáng suốt, nhạy bén đến thế.

Việt Nam bình tĩnh bởi trước những nguy cơ, thách thức và sức ép cực lớn của các thế lực thù địch hùng mạnh đe dọa sử dụng vũ lực mà không rối trí. Nhân dân Việt Nam vẫn không sợ, không nao núng hay mắc mưu trước những âm mưu hiểm độc của địch.

Việt Nam tự tin bởi trong những lúc đất nước “như ngàn cân treo sợi tóc” khi phải đối đầu với một kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới, máy chém lê khắp miền Nam, miền Bắc thì bầu trời, vùng biển không quân và hải quân địch làm chủ, khống chế.

Hải quân, không quân Việt Nam còn lạc hậu hơn địch hàng trăm lần mà chúng ta vẫn có những trận đánh để đời… và rồi chúng ta đã vượt qua thì ngày nay chúng ta có thuận lợi hơn rất nhiều.

Trước hết là sự sáng suốt, nhạy bén trong công tác tổ chức xây dựng lực lượng, hiện đại hóa Quân đội.

Thay vì xây dựng quân đội chính quy từng bước hiện đại, thì trước tình hình an ninh quốc gia đang bị nhiều nguy cơ thách thức, Việt Nam quyết định đưa “Hải quân, Phòng không –Không quân, Tác chiến điện tử và Thông tin liên lạc tiến thẳng lên hiện đại”.

Trong chiến tranh hiện đại, một quốc gia hùng mạnh có nền quân sự hiện đại gây ra với một quốc gia nhỏ, năng lực quốc phòng hạn chế gần như có chung một phương thức tiến hành.


Bastion-P là một trong những hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển cơ động hiện đại nhất trên thế giới hiện nay. Đến nay, chỉ có Hải quân Nga và Việt Nam sở hữu hệ thống tên lửa khủng khiếp này. Với phần chiến đấu 200 kg, Yakhont có thể tiêu diệt hầu hết tàu chiến trên thế giới hiện nay chỉ với một quả đạn. Và với một loạt phóng 8 quả (2,5s/1 quả) nó có thể buộc một hạm đội đối phương phải từ bỏ nhiệm vụ.

Chẳng hạn như ở 3 cuộc chiến tranh gần đây mà Mỹ và NATO tiến hành với Nam Tư, I-Rắc, và Ly Bi thì phương thức tấn công đó là:

Đầu tiên (tác chiến điện tử), tên lửa hành trình từ các tàu ngầm, tàu nổi mở màn, tấn công vào lãnh thổ nhằm làm cho hệ thống radar phòng không, hệ thống thông tin chỉ huy liên lạc tê liệt hoặc thiệt hại nặng khiến đối phương như “mù” và “điếc”.

Ở Nam Tư năm 1999, 218 tên lửa Tomahawk được phóng đi từ tàu ngầm Anh và tàu chiến Mỹ. Cuộc chiến Iraq 2003, 725 Tomahawk được bắn vào các mục tiêu ở Iraq.

Còn tại cuộc chiến Libya 2011, chỉ trong ngày đầu 19/3 Mỹ - Anh phóng tới 124 quả, ngày 22/3 phóng tiếp 159 quả.

Tiếp theo, không quân xuất kích chiếm lĩnh, thống trị bầu trời săn diệt những mục tiêu quân sự còn lại một cách dễ dàng và đánh phá các trung tâm kinh tế, chính trị, quốc phòng…mà không hề gặp sức kháng cự.

Giai đoạn này được coi là then chốt, quyết định kết quả chiến tranh. Mục đích chiến tranh đạt được hay không tùy thuộc có thống trị được bầu trời đối phương hay không.

Cuối cùng là lực lượng đổ bộ xuất kích hoặc không cần thiết khi đối phương đã đầu hàng không điều kiện.

Việt Nam cũng rơi vào một hoàn cảnh gần tương tự: kinh tế chưa phát triển, khoa học công nghệ còn hạn chế, bờ biển dài…thì phương thức tấn công với 3 bước trên trở nên  hết sức nguy hiểm.

Vì vậy, muốn chiến thắng kẻ thù không cách nào khác là phải xây dựng Hải quân, PK-KQ, Tác chiến điện tử và lực lượng thông tin liên lạc hiện đại, tinh nhuệ thiện chiến, cùng với toàn quân, toàn dân giáng trả, phá tan từng giai đoạn tiến hành chiến tranh của địch.

Với tinh thần đó, trong một thời gian chưa dài, nhưng Việt Nam đã tích cực xây dựng Hải quân, Phòng không-Không quân - lực lượng nòng cốt bảo vệ vùng trời, vùng biển và lực lượng tác chiến điện tử, thông tin liên lạc thực sự hiện đại, có trang bị vũ khí tối tân đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Việc các chuyên gia quân sự nước ngoài coi Việt Nam là quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh nhất ĐNA, chúng  ta không hề muốn như thế.

Nhưng ở giác độ nào đó cho chúng ta thấy sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.

Dù còn nghèo nhưng dân tộc Việt Nam vẫn sẵn sàng “thắt lưng buộc bụng” để tăng cường sức mạnh cho quân đội đủ sức răn đe và giáng trả đích đáng nếu chúng liều lĩnh xâm phạm bờ cõi.

Kì trước: Nghệ thuật bảo vệ Tổ quốc không có đối thủ của VN

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Hợp tác quốc phòng là trụ cột của quan hệ Việt-Trung

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam do Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đã sang thăm hữu nghị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

-> Đọc thêm: Tiểu sử Đỗ Bá Tỵ: Tổng tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam

Buổi hội đàm giữa hai đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam-Trung Quốc. (Ảnh: Xuân Vịnh/TTXVN)

Chuyến thăm được thực hiện theo lời mời của Thượng tướng Trần Bỉnh Đức, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Quân ủy trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA).

Ngay sau lễ đón trọng thể chiều 16/4, hai đoàn đại biểu quân sự cấp cao đã có buổi hội đàm dưới sự đồng chủ trì của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Đỗ Bá Tỵ và người đồng cấp nước chủ nhà Trần Bỉnh Đức.

Tại hội đàm, hai đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam và Trung Quốc đã cùng phân tích cũng như đánh giá tình hình quốc tế và khu vực, đồng thời thông báo những nét cơ bản về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước.

Phát biểu tại hội đàm, Tổng Tham mưu trưởng PLA Trần Bỉnh Đức bày tỏ sự phấn khởi được đón tiếp Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ cùng Đoàn cán bộ quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam sang thăm hữu nghị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Thượng tướng Trần Bỉnh Đức nhấn mạnh chuyến thăm của đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam lần này không chỉ thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước, mà còn tạo động lực mở ra bước phát triển mới, tốt đẹp và tin cậy hơn nữa giữa hai nước cùng hai quân đội.

Thượng tướng Trần Bỉnh Đức cũng thông báo kết quả phát triển kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật và công nghệ của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ông cho rằng mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song Trung Quốc vẫn đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao.

Về phần mình, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã giới thiệu những thành tựu nổi bật của Việt Nam sau Đại hội XI đến nay, trong đó nổi bật là chính trị xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh được củng cố và tăng cường, lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng cùng chính phủ tiếp tục được nâng lên. Việt Nam kiên quyết không chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng, việc sửa đổi hiến pháp sắp tới sẽ vẫn khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về quan hệ song phương, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ khẳng định Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng núi liền núi, sông liền sông. Mối tình hữu nghị Việt-Trung, tài sản vô giá do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông sáng lập và dày công vun đắp đã ngày càng phát triển mạnh mẽ và được nâng lên thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ cũng như giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay. Quan hệ hữu nghị Việt-Trung có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với cả hai nước, cũng như đối với hòa bình, ổn định và phát triển chung của khu vực.

Phát triển quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đẹp và bền vững với Trung Quốc luôn là chủ trương nhất quán và là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ khẳng định.

Hai bên hài lòng nhận thấy thời gian qua quan hệ quốc phòng tiếp tục được tăng cường và khẳng định vai trò là một trong những trụ cột của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc.

Hai bên đã triển khai có hiệu quả nội dung của Nghị định thư giữa hai Bộ Quốc phòng ký năm 2003 và các thỏa thuận hợp tác khác, trong đó một số lĩnh vực thực sự trở thành điểm sáng trong quan hệ quốc phòng hai nước.

Quân đội hai nước cũng đã tăng cường trao đổi đoàn các cấp, trong đó chú trọng gặp gỡ và tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao; tăng cường trao đổi đoàn chuyên ngành; giao lưu sỹ quan trẻ, cựu chiến binh; giao lưu văn hóa, văn nghệ...

Về đào tạo, hai bên đã hợp tác một cách có hiệu quả. Học viên quân sự hai nước sau thời gian học tập đã phát huy tốt kết quả học tập cũng như vai trò cầu nối hợp tác hữu nghị giữa hai nước.

Quan hệ hợp tác, phối hợp giữa Hải quân, Biên phòng và các quân khu giáp biên giới tiếp tục được đẩy mạnh và đạt hiệu quả thiết thực. Thông qua các hình thức như tuần tra liên hợp trên biển và trên bộ, phối hợp diễn tập tìm kiếm cứu nạn trên biển... đã góp phần giữ vững an ninh, trật tự khu vực biên giới, đồng thời giải quyết kịp thời các vụ việc vi phạm, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm.

Các lĩnh vực hợp tác về công tác Đảng, công tác chính trị, phối hợp trong cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+)… giữa quân đội hai nước thời gian qua tiếp tục được đẩy mạnh.

Về vấn đề trên Biển Đông, hai bên nhất trí quân đội phải là lực lượng gương mẫu đi đầu triển khai thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, trong đó có “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển”. Hai bên lưu ý cần cảnh giác không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết và lợi ích chiến lược lâu dài giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, gây mất ổn định chính trị ở mỗi nước.

Hai đoàn đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam và PLA thống nhất thời gian tới cần tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các lĩnh vực hợp tác nêu trong Nghị định thư giữa hai Bộ Quốc phòng; chú trọng tăng cường giao lưu cấp cao; mở rộng giao lưu các cấp, các ngành; giao lưu sỹ quan trẻ và cựu chiến binh; đào tạo cán bộ.

Quân đội hai nước tiếp tục hoàn thiện các cơ chế hợp tác hiện có, đồng thời nghiên cứu một số cơ chế mới bảo đảm cho các hoạt động ngày càng hiệu quả, đưa mối quan hệ giữa quân đội hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và tin cậy lẫn nhau hơn.

Quân đội hai nước cần đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền về tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân và quân đội hai nước; tiếp tục phối hợp tại các diễn đàn đa phương, đặc biệt là cơ chế ADMM+, qua đó nâng cao vai trò, vị thế của quân đội hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong khu vực, thúc đẩy hợp tác vì hòa bình, hợp tác và phát triển chung của khu vực.

Cuộc hội đàm đã diễn ra trên tinh thần thẳng thắn, tôn trọng lẫn nhau, nhận thức và đánh giá đúng, thực chất kết quả hợp tác quốc phòng giữa quân đội hai nước thời gian qua, thống nhất các hình thức giải quyết những vấn đề nảy sinh trên cơ sở nhận thức chung và các thỏa thuận đã được ký kết giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam và Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt.

Thay mặt Đoàn cán bộ quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã chân thành cảm ơn lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Thượng tướng Trần Bỉnh Đức và cán bộ, chiến sĩ PLA đã tiếp đón, dành những tình cảm nồng ấm và quan tâm, tạo mọi điều kiện cho đoàn hoạt động, điều đó thể hiện tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác gắn bó giữa hai Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước.

Được tận mắt chứng kiến sự phát triển trên đất nước Trung Quốc, Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Bá Tỵ khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, khẳng định bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã trân trọng mời Thượng tướng Trần Bỉnh Đức cùng các lãnh đạo khác của Quân ủy Trung ương cũng như PLA sang thăm Việt Nam./.

Theo TTXVN